Đôi điều suy nghĩ về Tiếng Sài Gòn - phần 2

Người miền Nam từ trí thức đến bình dân đều dùng từ “ông xã”, “bà xã” một cách thân mật. Trong gia đình, dù người con hay người cháu đã lớn tuổi hay có địa vị xã hội, ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì...vẫn gọi là “thằng X”, “con Y” chứ không gọi “anh, chị”. Nếu như ở miền Bắc gọi như thế là thiếu văn hóa thì miền Nam gọi con cháu là “anh, chị” là bình thường. Khi đến chơi nhà bạn, người Sài Gòn cũng thường có thói quen gọi ông bà của bạn mình là “nội” hay “ngoại” thân mật như người trong gia đình.
Tính cách đó cũng thể hiện qua việc cấu tạo qua các từ chỉ mức độ vừa phong phú về số lượng, giàu sắc thái biểu cảm, như: cao (phòng), ốm (nhách), nhẹ (hều), dễ (ợt), dễ (ẹt),...
PNNB cũng có cấu tạo đặc biệt, như kiểu lấy âm “ch”: chàu quạu, chầm vầm, chòe queo, chèm bẹp,...; kiểu lấy từ với từ “ba”: “ba trợn” -> ba trợn ba trạo, sớn sác -> ba sớn ba sác,...; kiểu lấy tư với từ “cà”: cà rịch cà ràng, cà xịch cà đụi, cà trật cà vuột,...
Về từ vựng - ngữ nghĩa, các phương ngữ ảnh hưởng qua lại với nhau, nhất là trong điều kiện nước nhà thống nhất, việc giao lưu, tiếp xúc dễ dàng, rộng rãi. Nhưng từ ngữ hay, gọn, có tầng số cao dần dần thay thế cho những từ ngữ khác. Ngoài những từ ngữ chính trị xã hội, Phương ngữ Nam Bộ còn nhập thêm nhiều từ dùng trong đời sống hàng ngày, như “bưu điện” thay cho “nhà dây thép”, bệnh viện thay cho “nhà thương”...Ngược lại Phương ngữ Nam Bộ cũng bổ sung vào tiếng Việt toàn dân nhiều từ ngữ chỉ các sản vật, các địa hình, địa thế...đặc biệt của địa phương như: chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, tràm, đước, mãng cầu xiêm, cù lao, cồn, giồng, bưng biển,...và các từ dùng trong đời sống hằng ngày như: bụi đời, tùm lum, nhậu, chiên (rán), cây (1 lượng vàng).
Với khả năng tạo từ nhanh chóng, tạo những tiếng lóng vui, dí dỏm của Sài Gòn thường được lan rộng ra các tỉnh lân cận khác, điều đã đó nói lên sức sống trẻ, khỏe của sinh hoạt ngôn ngữ của thành phố Sài Gòn này. Những từ ngữ dí dỏm như: hết xẩy, xịn, dỏm, chôm chỉa, dỏm, mánh, quậy, không dám,...
Chúng ta đã sắp bước qua kỷ niên 300 năm thành lặp vùng đất Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh vẫn mong ước Sài Gòn vẫn xứng đáng với cái tên gọi mà nhân dân cả nước trao tặng là hòn ngọc Viễn Đong và tiếng Sài Gòn vẫn luôn phát triển đa dạng, phong phú, là nguồn bổ sung quan trọng cho ngôn ngữ toàn dân.
……………………………….
1/Nguyễn Đình Đậu, Địa lý lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh, trong: Đại chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập 1, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1987, trang.127-231.
2/ Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa, Nhà sách Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, năm 1969.
3/ Nguyễn Văn Ái, Sổ tay phương ngữ Nam Bộ, Nhà xuất bản Cửu Long, năm 1987.
4/ Trần Thị Ngọc Lang, Phương ngữ Nam Bộ , Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1995
PTS Trần Thị Ngọc Lang - Kiến Thức Ngày Nay - 260 - 1997
06/07/2017

Gửi bình luận

Tên của bạn *
Email *
Cảm nhận *